số điện thoại tư vấn
tư vấn ung thư
Đề nghị của bạn
tư vấn zalo More AddThis Share options

Đánh giá và chẩn đoán khối u ở tuyến vú như thế nào?

I. Bệnh nhân có thể sẽ đi khám do một số triệu chứng dưới đây:

• Xuất hiện u cục mới ở tuyến vú.

• Khối cứng đau liên tục không dứt tới tận sau khi kết thúc kỳ kinh nguyệt tiếp theo.

• U cục đã có trở nên to lên hoặc có những thay đổi khác.

• Vùng da tuyến vú có biến đổi như sưng đỏ, đóng vảy, lõm vào bên trong hoặc bị nhăn.

• Đầu núm vú có biến đổi như thụt vào trong hoặc trở nên bằng phẳng.

• Tuyến vú tự tiết dịch bất thường.

II. Kiểm tra lâm sàng

Cho dù bệnh nhân phát hiện u cục khi tự khám tại nhà hay khi khám tại bệnh viện, bác sĩ thường có những yêu cầu như sau:

1) Tìm hiểu kỹ về bệnh sử của bệnh nhân và tiền sử gia đình, đánh giá nguy cơ mắc ung thư vú của bệnh nhân.

2) Kiểm tra bề mặt tuyến vú: Những thay đổi bên ngoài về hình dáng và kích thước của tuyến vú ở những vị trí khác nhau, kiểm tra những bất thường tại da và vùng núm vú.

3) Khám tại chỗ: Khám vùng tuyến vú, tổ chức hạch dưới nách và khu vực lân cận. Nếu xác nhận có u cục tuyến vú, tùy theo kích thước, tính chất, mức độ trơn nhẵn của ranh giới khối u, mức độ di chuyển của khối u và những thay đổi tại vùng da và núm vú, bác sĩ có thể đánh giá khách quan sơ bộ về tình trạng lành tính hoặc ác tính của khối u.

III. Kiểm tra bằng chẩn đoán hình ảnh.

1) Chụp nhũ ảnh

Đây là phương pháp kiểm tra bằng tia X cường độ thấp đối với tuyến vú, có thể giúp bác sĩ kiểm tra được các triệu chứng chủ quan và thực thể của khối u tuyến vú, như dày tổ chức, lõm da hoặc thụt núm vú.

Chụp nhũ ảnh có hai loại, một là để tầm soát, một là để chẩn đoán bệnh. So với chụp nhũ ảnh tầm soát, chụp nhũ ảnh chẩn đoán tập trung vào một vùng của tuyến vú để kiểm tra đa chiều, rõ nét và tập trung hơn, qua đó có thể giúp bác sĩ xác định vị trí và kích thước của khối u.

Khối u lành tính thường có ranh giới rõ ràng, bề mặt trơn nhẵn. Nếu kết quả chụp nhũ ảnh chẩn đoán là không hoàn toàn lành tính, hoặc có những nghi ngờ ở một số vị trí, thì bệnh nhân nên tiến hành kiểm tra siêu âm đồng thời kiểm tra sinh thiết tế bào tại chỗ.

2)Kiểm tra siêu âm

Nhờ tác dụng của sóng siêu âm phản chiếu hình ảnh bên trong tuyến vú lên màn hình máy siêu âm. Đối với nữ giới dưới 30 tuổi, siêu âm là lựa chọn hàng đầu để kiểm tra. Do mật độ tế bào tuyến vú ở người trẻ dày đặc hơn, do đó có thể gây ảnh hưởng tới độ nhạy của kiểm tra tuyến vú bằng tia X. Siêu âm có thể giúp xác định tính chất của khối u là đặc hay nang rỗng, nang rỗng thường chứa dịch bên trong.

Lưu ý: Tổ chức mô tuyến vú của phụ nữ châu Á khá dày đặc, đôi khi kiểm tra bằng siêu âm sẽ thích hợp hơn.

3) Cộng hưởng từ tuyến vú (MRI)

Thông qua từ trường và sóng điện vô tuyến tạo thành các hình ảnh chi tiết về cấu tạo tuyến vú. Trước khi tiến hành chụp cần tiêm thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch để tăng cường rõ nét hơn hình ảnh một số tổ chức trên phim chụp, giúp cho các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá được khu vực nào có biến đổi ác tính. Đôi khi hình ảnh cộng hưởng từ rất khó để giải thích, sẽ dẫn đến tình trạng dương tính giả, nên cộng hưởng từ thường chỉ sử dụng khi các kết quả chẩn đoán bằng siêu âm hoặc tia X có vấn đề hoặc đang nghi ngờ.

4) Hình ảnh ống tuyến

Thường dùng khi núm vú có chảy dịch, cần kiểm tra bên trong các ống tuyến có khối u hay không.

5) Báo cáo kết quả chẩn đoán hình ảnh tuyến vú

Khoa phóng xạ của Mỹ có một hệ thống tiêu chuẩn để phân cấp, có tên Hệ thống báo cáo và số liệu hình ảnh tuyến vú (Breast Imaging Reporting and Data System), gọi tắt là BI-RADS.

Hệ thống dữ liệu số hóa tiêu chuẩn này đã trở thành nền tảng để các bệnh viện và các bác sĩ khác nhau có thể đưa ra và trao đổi các kết quả chẩn đoán hình ảnh rõ nét và chính xác nhất. Hiện nay đang là phiên bản thứ 5 của BI-RADS, được phân thành 6 loại, mỗi loại sẽ thể hiện được mức độ nguy hiểm của ung thư và các phương pháp xử lý tương ứng.

0: Kiểm tra không hoàn toàn, thường phải kiểm tra thêm hoặc đánh giá lại các phim chụp cũ.

1: Âm tính, tầm soát ung thư thường quy.

2. Lành tính, tầm soát ung thư thường quy.

3: Có thể lành tính, trong thời gian ngắn nếu khó chịu thì đi khám bác sĩ, thông thường là 6 tháng.

4: Nghi ngờ là ác tính, phải làm sinh thiết.

5: Nguy cơ ác tính cao, cần phải làm sinh thiết

6: Xác nhận chính xác là khối u ác tính, cần phải tiến hành điều trị lâm sàng.

IV. Lấy mẫu sinh thiết tế bào

1) Sinh thiết bằng kim chọc dò

Là một phương pháp sinh thiết thường gặp. Đó là thông qua một kim to rỗng ruột, lấy ra một phần tế bào nhỏ nhưng chắc chắn tại vùng trung tâm khối u tuyến vú. Phương pháp sinh thiết này sẽ lấy ra được nhiều tổ chức tế bào hơn so với kim nhỏ. Cần tiến hành gây tê cục bộ, và thao tác dưới sự quan sát của siêu âm hình ảnh hoặc MRI.

2) Sinh thiết định hướng 3 chiều

Trong quá trình sinh thiết bằng định hướng 3 chiều, sau khi tuyến vú được cố định chắc chắn, tia X sẽ hình thành hình ảnh ba chiều từ nhiều góc độ đối với khu vực nghi ngờ có tế bào, bác sĩ sẽ sử dụng đầu kim tương đối lớn để lấy ra tổ chức tế bào tuyến vú.

3) Chọc dò bằng kim nhỏ

Dùng đầu kin cực nhỏ đặc biệt lấy ra tổ chức tế bào hoặc dịch ở vùng nghi ngờ. Vì phương pháp này có khá nhiều hạn chế, hiện tại đã rất ít sử dụng.

4) Sinh thiết dao xoay hút chân không

Sau gây tê, bác sĩ rạch một vết nhỏ trên tuyến vú, đưa đầu kim ruột rỗng vào khu vực nghi ngờ, thông qua thiết bị hút chân không để lấy ra các tế bào trong khu vực. Phương pháp sinh thiết này có thể lấy tế bào từ nhiều nơi trong tuyến vú chỉ bằng một vết rạch.

V.Sinh thiết phẫu thuật

Bác sĩ ngoại khoa mổ phanh tuyến vú, phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ khối u và tổ chức xung quanh. Phương pháp điều trị này yêu cầu phải gây mê toàn thân.

Kết quả giải phẫu bệnh của sinh thiết tế bào tuyến vú:

Lành tính: Thường gặp nhất là u sợi tuyến vú, và một số loại khác.

Ác tính: Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ đưa ra chẩn đoán kĩ càng để đánh giá mức độ ác tính của tế bào, có phải ung thư hay không, là nguyên phát hay xâm lấn, loại tế bào gì và mức độ ác tính như thế nào.

Tăng sinh không điển hình hoặc biến đổi tế bào: Bao gồm mọi biến đổi không hoàn toàn lành tính nhưng chưa phát triển thành ác tính, biến đổi bệnh lý này có rất nhiều loại, mức độ nguy hiểm phát triển thành ung thư của mỗi loại cũng có sự khác biệt, do đó phương pháp điều trị cũng rất khác nhau.

VI. Đánh giá tổng hợp, điều trị và đi khám tùy nhu cầu

Sau khi các kết của của xét nghiệm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm tế bào đều đã có, thì sẽ có thể đánh giá một cách toàn diện và kĩ càng về khối u tuyến vú.

Nếu kết quả của ba xét nghiệm này đều cho rằng khối u tại vú là lành tính, vậy thì người bệnh chỉ cần đi khám định kỳ và tầm soát thường quy là được, có thể đề nghị người bệnh tiến hành đánh giá lại sau vài tháng. Trong giai đoạn này, cần yêu cầu người bệnh chú ý mọi thay đổi của khối u hoặc sự phát triển của các khối mới, nếu thấy có bất thường thì phải đi khám ngay. Một số khối u lành tính mặc dù không có nguy cơ ác tính, nhưng nếu do vị trí, thể tích trở nên lớn hơn hoặc do người bệnh yêu cầu, thì có thể loại bỏ bằng phẫu thuật.

Nếu ba kết quả đều nhận định là ác tính, hoặc kết quả hình ảnh chưa chắc chắn nhưng kết quả tế bào có thể chẩn đoán là có tế bào ác tính, thì bước tiếp theo cần phải đánh giá toàn diện về ung thư, đồng thời thảo luận phương án điều trị cùng người bệnh.

Nếu ba kết quả không đồng nhất, cần phải phân tích cụ thể hơn trên từng bệnh án. Thông thường sẽ cần phải tiến hành sinh thiết lại hoặc phẫu thuật cắt bỏ.

Văn phòng Hà Nội:
Địa chỉ:Tầng 3, tòa nhà HCO,44B Lý Thường Kiệt, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
TEL:(024)-22336666(024)-37345566
Văn phòng Hồ Chí Minh:
Địa chỉ:Tầng 2, tòa nhà MAYFAIR, 102C, Cống Quỳnh, P.Phạm Ngũ Lão, Q.1, TP.HCM
TEL:(028)-668822330818 8877770778 645566
TƯ VẤN GỌI ĐIỆN MESSENGER CHAT ZALO
HN (024)22336666
HCM (028)66882233
Cancel Confirm